Thứ Năm ngày 05 tháng 2 năm 2026

Tài sản số và tiền mã hóa – không thể đứng ngoài cuộc chơi nhưng phải an toàn và đáng tin

Với việc MIMO, giải pháp trung gian chuyển đổi qua lại giữa tài sản số (tiền mã hóa) và tiền pháp định Việt Nam (tiền đồng), được chính quyền Thành phố Đà Nẵng chính thức cấp phép thử nghiệm có kiểm soát từ đầu năm 2026, Việt Nam đã tiếp tục khẳng định việc chấp nhận tham gia cuộc chơi toàn cầu về tài sản mã hóa. Đây là một bước tiến mới mang tính cởi mở khi tiền số trong nhiều năm trước không được công nhận tại Việt Nam. Việt Nam đã chuyển từ tư thế tẩy chay sang dè chừng, quan sát rồi bây giờ chấp nhận nhập cuộc cùng toàn cầu trong lĩnh vực tài sản số. Đó là một xu thế toàn cầu hướng tới tương lai trong thời đại số mà nước nào chuẩn bị tốt, nắm quyền chủ động tối ưu sẽ khai thác tối đa lợi ích từ tài sản số  (digital asset) nhưng vẫn giảm thiểu được nguy cơ.

Người ta dễ nhầm lẫn giữa tài sản số và tiền số hay tài sản mã hóa. Tài sản số (digital asset) là một khái niệm rộng lớn, bao quát, chỉ những tài sản tồn tại hoàn toàn dưới dạng dữ liệu điện tử. Nó rất đa dạng, từ hình ảnh, video trong thiết bị hay trên mạng xã hội, tới tên miền website hay phần mềm mua trực tuyến. Điểm chung của các loại hình tài sản số là không tồn tại vật chất hữu hìnhmà được tạo ra, lưu trữ và trao đổi thông qua các nền tảng công nghệ số. Trong khi đó, tài sản mã hóa (crypto assets) là một nhóm nhỏ nhưng đặc biệt thuộc tài sản số. Điểm khác biệt cốt lõi của tài sản mã hóa là nó được tạo ra, quản lý và xác thực nhờ công nghệ blockchain hoặc các thuật toán mã hóa hiện đại. Tài sản mã hóa có những đặc điểm chính:

  • Mỗi tài sản được định danh bằng mã duy nhất, không thể sao chép tùy tiện.
  • Có thể giao dịch, dễ dàng mua bán, trao đổi như một loại hàng hóa tài chính.
  • Bảo mật và minh bạch khi mọi giao dịch đều được ghi lại công khai trên blockchain, khó bị chỉnh sửa hay gian lận.

Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 05/2025/NQ-CP về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam do Chính phú ban hành ngày 9-9-2025 định nghĩa: Tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử. Tài sản số là tài sản “ phi vật lý” tồn tại và giao dịch trong không gian mạng, những vẫn mang đầy đủ giá trị tài chính hoặc pháp lý.

Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 05/2025/NQ-CP quy định tài sản mã hoá là một loại tài sản số có sử dụng công nghệ mã hóa (như blockchain) hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực đối với tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao. Tài sản mã hóa không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự, tài chính.

Ảnh do AI Google Gemini tạo. Thanks.

Ngoài giải pháp MIMO của Công ty Cổ phần Dragon Lab, trước đó, vào tháng 8-2025, UBND TP Đà Nẵng cũng đã phê duyệt thử nghiệm có kiểm soát có thời hạn đối với Phần mềm Basal Pay của Công ty Cổ phần Alphatrue Solutions. Đây chính là nền tảng giao dịch tiền số được phép sandbox đầu tiên ở Việt Nam.

Mới nhất là ngày 9-1-2026, Công ty Cổ phần PayD chính thức được UBND TP Đà Nẵng chấp thuận tham gia hệ sinh thái Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (IFC). Qua đó, PayD trở thành nền tảng fintech tiên phong được phép thí điểm thanh toán tài sản số cho các hoạt động du lịch, tiêu dùng theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox).

Các giải pháp chuyển đổi tiền số này được kỳ vọng sẽ cung cấp cho du khách nước ngoài sở hữu tiền mã hóa một phương thức thanh toán quen thuộc của họ, được hợp pháp hóa và bảo đảm an toàn hơn.

Một điểm nhấn là các hình thức thử nghiệm sandbox tài sản số đã được cấp phép tại Đà Nẵng, cũng là đầu tiên ở Việt Nam, đều là nền tảng trung gian, kết hợp giữa công nghệ blockchain và tài chính truyền thống, nhằm hỗ trợ việc trao đổi tài sản mã hóa (crypto) với tiền pháp định (VND) một cách minh bạch, tự động, tuân thủ đầy đủ các quy định quốc tế về phòng, chống rửa tiền (AML) và tài trợ khủng bố (CFT). Các mô hình này hoạt động theo cơ chế không lưu ký (non-custodial), chỉ đóng vai trò trung gian kỹ thuật, xác thực và đảm bảo tuân thủ pháp lý, kết nối và điều phối chuyển đổi tiền số và VND một cách minh bạch, còn tài sản vẫn luôn nằm trong quyền kiểm soát của người dùng.

Lâu nay ở Việt Nam, tiền mã hóa, tiền điện tử (crypto currency) là một lĩnh vực nhạy cảm. Nhưng trong thực tế, nó là một xu hướng toàn cầu đầy tính hấp dẫn mà các nhà đầu tư Việt Nam, cả cá nhân lẫn tổ chức không thể đứng ngoài cuộc. Họ tham gia từ lâu rồi, lớn thì gọi là “đầu tư”, còn nhỏ lẻ thì là “chơi”, nhưng với hình thức “lén lút”, thậm chí ngoài vòng pháp luật. Các nhà đầu tư tiền điện tử Việt Nam suốt một thời gian dài không được pháp luật bảo vệ, đại đa số phải chơi trên các sàn quốc tế với những công cụ của nước ngoài, không có giá trị pháp lý tại Việt Nam. Hậu quả nhãn tiền của tình trạng phải “làm ăn” trong “vùng xám pháp lý” đó là độ bất trắc cực cao, đa số người chơi tiền điện tử đã bị thua lỗ, bị lừa đảo, có những người bị tán gia bại sản vì tiền số. Theo một hội thảo tại Đà Nẵng, chỉ riêng từ tháng 2 đến tháng 10-2025 tại Việt Nam đã xảy ra 6 vụ lừa đảo tài sản số với thiệt hại hàng chục nghìn tỷ đồng.

Có hai dạng tham gia thị trường tiền số. Một là đầu tư và hai là sử dụng. Phổ biến trước đây, người Việt Nam tham gia đầu tư tiền số, kiếm được tiền số nhưng lại chưa thể sử dụng hợp pháp tại Việt Nam (do các loại tiền số chưa được pháp luật Việt Nam công nhận).

Trong khi đó, thị trường tiền số trên toàn cầu đang không ngừng tăng tốc tăng trưởng. Theo dữ liệu của CoinMarketCap, vốn hóa thị trường tiền điện tử toàn cầu đang giao dịch vào giữa tháng 1-2026 lên tới 3.260 tỷ USD. Statista ước tính doanh thu dự kiến ​​của thị trường tiền điện tử toàn cầu sẽ đạt 97,7 tỷ USD vào năm 2026. Dự báo quy mô thị trường sẽ đạt 11.710 tỷ USD vào năm 2030, với tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CARG) 13,1%.

Trên thế giới từ lâu, thiên hạ đã kiếm tiền điện tử và thanh toán bằng tiền số giống như tiền truyền thống. Ở Mỹ, vào năm 2024 có khoảng 40% số dân trưởng thành sở hữu tiền số (tăng từ 30% hồi năm trước). Một dấu hiệu cụ thể cho thấy sự dễ tiếp cận ngày càng tăng của tiền điện tử là sự mở rộng cơ sở hạ tầng ATM tiền điện tử. Đến cuối năm 2024, số lượng máy ATM tiền điện tử được lắp đặt trên toàn thế giới đã tăng lên khoảng 37.700, giúp mọi người dễ dàng hơn khi chuyển đổi qua lại giữa tiền điện tử và tiền mặt. Cách đây hơn một thập niên, chúng tôi đã từng nhìn thấy tại một tiệm ăn ở thành phố San Francisco (bang California, Mỹ) có gắn biển cho biết chấp nhận thanh toán bằng tiền điện tử.

Rõ ràng, tiền điện tử từ nhiều năm nay đã là một dòng chạy ngầm trong tài chính – tiền tệ số tại Việt Nam. Theo Hiệp hội Blockchain Việt Nam, vào năm 2025, Việt Nam có khoảng 17 triệu tài khoản đầu tư crypto, tương đương 20% dân số và cao hơn mức trung bình toàn cầu khoảng 6%. Riêng trong năm 2022, giá trị giao dịch tài sản số tại Việt Nam đạt khoảng 120 tỷ USD. Ngay cả khi tiền số chưa được công nhận chính thức, Việt Nam đã nằm trong số những quốc gia có hoạt động tiền điện tử sôi động nhất thế giới. Chainanalys cho biết: Năm 2025, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (APAC) tiếp tục khẳng định vị thế là trung tâm toàn cầu về hoạt động tiền điện tử cấp cơ sở, dẫn đầu bởi Ấn Độ, Pakistan và Việt Nam, với dân số đông đảo đã thúc đẩy sự phổ biến rộng rãi cả trên các dịch vụ tập trung và phi tập trung.

Dù muộn, do phải cẩn trọng tối đa, nhưng cuối cùng Việt Nam cũng không thể cứ đứng ngoài cuộc chơi, đứng ngoài thị trường tài sản số. Không chỉ với yêu cầu bảo vệ các nhà đầu tư Việt mà còn góp phần đẩy mạnh nền kinh tế số một cách toàn diện.

Bấy lâu nay, ngoài các nhà làm chính sách, các chuyên gia đã luôn nói tới việc Việt Nam cần thiết tham gia thị trường tài sản số, nhưng phải rút kinh nghiệm từ các nước khác để có những cách làm phù hợp nhất có thể với thực tế Việt Nam. Hành lang pháp lý cho tài sản số là ưu tiên hàng đầu. Và điều này đã được giải quyết căn cơ với Luật Công nghiệp Công nghệ số (Luật số 71/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 14-6-2025, có hiệu lực từ ngày 1-1-2026. Đây chính là khung pháp lý toàn diện đầu tiên của Việt Nam về tài sản số, và nó được đánh giá là tiên tiến, bao gồm cả việc đề cập tới ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Dựa trên hành lang pháp lý đó, Việt Nam đã tiến hành triển khai hoạt động có liên quan tới tiền mã hóa. Nhưng với đặc thù của loại tiền tệ này, chúng ta không thể nóng vội mà phải cẩn trọng, đi từng bước, trước hết là thử nghiệm trong quy mô nhỏ để có thể kiểm soát tối ưu. Đây là cách làm cẩn trọng mà nhiều quốc gia trước đó như Nhật Bản, Hàn Quốc,… đã áp dụng. Ngày càng có thêm nhiều nước chuyển từ cấm đoán cực đoan sang công nhận và thử nghiệm với tài sản số.

Rõ ràng là Việt Nam đang rất thận trọng trong lĩnh vực tài sản số. Chúng ta đang tiến hành thử nghiệm có kiểm soát trong quy mô nhỏ và biệt lập để hiểu hơn cốt lõi và cách vận hành của loại tài sản mới mẻ với mình này. Hiện trên thế giới có vô số loại tiền số, mà đồng USDT đang được thử nghiệm ở Đà Nẵng nằm trong Top 5. Việc chọn loại tiền stablecoin (tiền mã hóa ổn định) được thiết kế để có giá trị tương đương 1:1 với đồng USD như thế là an toàn vì nó phổ biến và có giá trị ổn ở mức tương đồng. Việc thử nghiệm có kiểm soát cũng có thời hạn cụ thể (như 3 năm với MIMO và Basal Pay).

Cơ chế sandbox có khả năng kiểm soát cao mà TP Đà Nẵng áp dụng để thử nghiệm vận hành tiền mã hóa được đánh giá là hơn hẳn phương thức P2P truyền thống (cá nhân tự giao dịch với nhau). Mô hình P2P vốn được người dùng tiền mã hóa ở Việt Nam sử dụng trước đây, giờ không được cấp phép do có rủi ro cao trong giao dịch qua trung gian, dễ dính ví bẩn; gần như không thể kiểm soát nguồn tiền; giao dịch ẩn danh và không có báo cáo. Trong khi đó, cơ chế sandbox được xây dựng với các hàng rào kỹ thuật như định danh điện tử đa lớp (eKYC), giới hạn địa lý (geofencing), giám sát giao dịch theo thời gian thực, bảo đảm khả năng truy vết và báo cáo khi cần thiết.

Công ty Dragon Lab cho biết: MIMO cho phép người sử dụng tài sản mã hóa được chi tiêu hằng ngày an toàn, minh bạch và tuân thủ pháp luật với mô hình non-custodial (không lưu ký – tức không giữ tài sản của người dùng và người dùng tự kiểm soát tiền).

Với Luật Công nghiệp Công nghệ số, Việt Nam đã chính thức công nhận tài sản số, trong đó có tiền điện tử. Câu chuyện bây giờ chuyển sang việc triển khai các hoạt động tài sản số ở Việt Nam theo luật định.

Việc công nhận tài sản số ở Việt Nam phải vừa có tính hội nhập quốc tế, vừa bảo đảm an toàn cho người sở hữu, vừa bảo đảm an ninh tiền tệ trong nền kinh tế số. Rõ ràng có nhiều việc phải làm trong thời gian tới. Nhà chức trách không chỉ kiểm soát mà còn phải biết rút tỉa được những bài học thực tiễn để hoàn thiện dần việc vận hành tài sản số. Tất nhiên phải tạo được niềm tin cho những nhà đầu tư thị trường tài sản số ở Việt Nam.

Tài sản số dựa trên blockchain và là một thành phần của blockchai – một trong các công nghệ chiến lược mà theo Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ là cần được ưu tiên phát triển đến năm 2030, bên cạnh những công nghệ định hình tương lai khác như Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), Dữ liệu lớn (Big Data), và Điện toán đám mây.

Sở Khoa học và Công nghệ TP Đà Nẵng nhìn nhận việc cấp phép thử nghiệm có kiểm soát tiền mã hóa là một đột phá rất lớn, nhưng cũng đi đôi với nhiều rủi ro. Do vậy, vấn đề an toàn và kiểm soát vẫn phải đặt lên hàng đầu. Vấn đề trong trường hợp tài sản mã hóa nằm ở chỗ cần xác định thử nghiệm để làm chủ và hướng tới có thể triển khai tối ưu. Và kinh doanh tài sản số không chỉ có tiền mã hóa mà còn có những loại hình khác, trong đó có NFT.

Cho tới nay, mặc dù đã chính thức công nhận tài sản số, nhưng Việt Nam vẫn chưa công nhận các giao dịch liên quan đến tài sản mã hóa là phương tiện thanh toán hợp pháp. Con đường tài sản mã hóa đi tới còn dài, bắt đầu từ những viên đá lát đường là các cuộc sandbox như ở Đà Nẵng và sắp tới chắc chắn sẽ được mở rộng thêm những nơi khác như Hà Nội và TP HCM. Tất cả đang nhìn về Đà Nẵng là vì thế. 

Bài đã in trên báo Tuổi Trẻ thứ Sáu 16-1-2026 và trên báo TTO.

PHẠM HỒNG PHƯỚC